Nhiệt tăng mạnh tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho biết kịch bản biến đổi khí hậu phiên bản năm 2025 được cập nhật theo các kịch bản chia sẻ kinh tế xã hội (SSP) do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra. Đây là tập hợp các giả định khoa học về phát triển kinh tế, gia tăng dân số, sử dụng năng lượng, chuyển dịch công nghệ và ban hành chính sách khí hậu trong tương lai.
Nhiệt độ tối cao có xu thế gia tăng trên toàn lãnh thổ Việt Nam và tăng tỷ lệ thuận với các ngưỡng nóng lên toàn cầu. Ở ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5 độ C, mức tăng phổ biến từ 1-1,5 độ C. Nhưng khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên 4 độ C, mức tăng có thể đạt 3-4 độ C.
Nhiệt độ tối thấp có tốc độ gia tăng mạnh mẽ và cực đoan hơn so với nhiệt độ tối cao, đặc biệt rõ rệt tại các vùng khí hậu phía Bắc. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng 3°C và 4°C, nhiệt độ tối thấp tại các tỉnh miền núi phía Bắc ghi nhận mức tăng mạnh nhất, có thể vượt ngưỡng 5°C.

Biến đổi khí hậu làm nhiệt tăng, dịch bệnh cũng có thể phức tạp hơn. Ảnh: Tuấn Anh
Số ngày nắng nóng (trên 35 độ C) tăng mạnh với mức tăng 10-30 ngày ở ngưỡng 1,5 độ C, và tăng đến 30-50 ngày với ngưỡng 3-4 độ C, vượt 50 ngày/năm tại nhiều khu vực Trung Bộ và Nam Bộ. Ngược lại, rét đậm, rét hại giảm mạnh. Số ngày rét đậm, rét hại tại Bắc Bộ giảm 20-30 ngày ở ngưỡng nóng lên 3 độ C; và giảm 30-40 ngày ở ngưỡng nóng lên 4 độ C.
Với các ngưỡng nóng lên toàn cầu từ 1,5-4 độ C, hạn hán có xu hướng gia tăng đáng kể tại Bắc Bộ cả về tần suất và cường độ, trong khi khu vực phía Nam có xu thế giảm nhẹ, làm nổi bật sự phân hóa không gian của tác động biến đổi khí hậu đối với hạn hán ở Việt Nam.
Đến năm 2100, mực nước biển dâng trung bình toàn Biển Đông được dự tính khoảng 46,1 cm theo kịch bản thấp đến 63,7 cm theo kịch bản cao; cận trên của khoảng bất định theo kịch bản cao có thể đạt 84,2 cm. Đối với toàn dải ven biển Việt Nam, theo kịch bản cao, mức dâng trung bình vào cuối thế kỷ khoảng 61,9 cm, với cận trên lên tới 82,0 cm. Bản đồ nguy cơ ngập cho thấy sự phân hóa rất rõ giữa các vùng, trong đó đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ ngập cao nhất.
Điểm mới đáng chú ý là kịch bản đã thực hiện một số nghiên cứu điển hình đối với sản xuất lúa, sức khỏe cộng đồng và kết cấu công trình. Kết quả cho thấy các rủi ro khí hậu có xu hướng gia tăng theo mức độ nóng lên toàn cầu và trở nên rõ rệt hơn trong nửa cuối thế kỷ 21.
Cụ thể, trong sản xuất lúa, năng suất lúa tại đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng suy giảm theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu. Tác động trở nên rõ rệt từ ngưỡng nóng lên 2°C trở lên, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là khu vực nhạy cảm hơn với mức giảm năng suất có thể vượt 10% ở một số vụ sản xuất khi nhiệt độ toàn cầu tăng 4°C.
Về sức khỏe cộng đồng, theo kịch bản, tần suất các điều kiện nhiệt- ẩm nguy hiểm đối với sức khỏe con người (WBGT > 32°C) được dự tính gia tăng mạnh tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, đặc biệt tại khu vực nội đô. Đồng thời, nguy cơ sốt xuất huyết có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng nhiệt độ và các điều kiện khí hậu thuận lợi cho véc-tơ truyền bệnh.
Đối với kết cấu công trình, nhiệt độ cực đoan, các đợt nắng nóng kéo dài và sự thay đổi của gió cực trị có thể làm gia tăng tác động bất lợi đến độ bền và tuổi thọ công trình, đặc biệt đối với hạ tầng giao thông và các công trình đô thị.
Thích ứng với biến đổi khí hậu
TS Trương Bá Kiên - Phó Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng và Khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường - cho biết, nắng nóng ở đô thị đang trở thành vấn đề cấp bách trên toàn thế giới. Các thành phố lớn hiện chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa.
TS Kiên cho biết, theo Kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia phiên bản 2025 do Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển xây dựng, trên cơ sở dữ liệu quan trắc từ năm 1961 đến những năm gần đây, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam tăng khoảng 0,2 độ C mỗi thập kỷ. Sau hơn 60 năm, nhiệt độ trung bình của Việt Nam đã tăng trên 1 độ C.
Đáng chú ý, các hiện tượng nhiệt độ cực đoan, đặc biệt là nhiệt độ cao nhất trong ngày, có tốc độ gia tăng nhanh hơn nhiệt độ trung bình. Không chỉ ban ngày, tình trạng nhiệt độ ban đêm tăng cũng đáng lưu ý. Miền Bắc và miền Trung có tốc độ tăng nhanh hơn miền Nam. Tại Hà Nội và TPHCM, số ngày nắng nóng cũng có xu hướng gia tăng. Nắng nóng kết hợp với hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, độ ẩm và khả năng thoát gió làm gia tăng đáng kể các rủi ro sức khỏe như bệnh tim mạch, sốc nhiệt.
Ở góc độ quy hoạch, TS Kiên cho rằng cần phát triển không gian xanh, hồ điều hòa và không gian mở để giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị. Đây là những giải pháp dựa vào tự nhiên, đồng thời góp phần giảm nhu cầu sử dụng năng lượng. Bên cạnh đó, cần hạn chế tác động của quá trình bê tông hóa và sử dụng các vật liệu xây dựng có khả năng phản xạ nhiệt tốt, ít giữ nhiệt và thân thiện với môi trường.
Ứng phó với nắng nóng gia tăng, chuyên gia cho rằng có thể áp dụng các giải pháp làm mát thụ động trong xây dựng như lựa chọn hướng công trình, thiết kế và lớp vỏ tòa nhà phù hợp để giảm tải nhiệt bên trong, từ đó giảm tiêu thụ năng lượng. Đối với các hệ thống đang vận hành, cần đo đạc, giám sát và quản lý để xác định mức tiêu thụ, thất thoát, lãng phí, qua đó tối ưu hóa thiết bị.
Ở quy mô hộ gia đình, các chuyên gia khuyến nghị lựa chọn thiết bị có hiệu suất năng lượng cao, đặc biệt với các thiết bị tiêu thụ nhiều điện như điều hòa, tủ lạnh, máy giặt; tham khảo nhãn năng lượng của Bộ Công Thương. Bên cạnh đó, người dân cũng cần sử dụng thiết bị đúng nhu cầu, tắt khi không sử dụng và thực hiện bảo dưỡng, vệ sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Với điều hòa, có thể kết hợp quạt để tăng khả năng lưu thông không khí và sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Về định hướng những năm tới, TS Kiên đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm cần ưu tiên là tích hợp bản đồ rủi ro khí hậu vào quy hoạch và đầu tư hạ tầng; khôi phục, phát triển không gian xanh, hành lang xanh; đồng thời tận dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là AI, dữ liệu và các mô hình mô phỏng để dự báo tác động của rủi ro khí hậu đối với đô thị. Qua đó, các địa phương có thể chủ động xây dựng phương án thích ứng trước khi các hiện tượng cực đoan xảy ra.