Chiều 24/10, thảo luận tại Tổ về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) ATTP (sửa đổi), ĐBQH Phạm Thu Xanh – Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng đề nghị tăng cường hậu kiểm, siết trách nhiệm quảng cáo trên nền tảng số và phân định rõ trách nhiệm quản lý.
Từ vụ kẹo Kera, cần kiểm soát chặt quảng cáo thực phẩm trên mạng
Đại biểu thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật ATTP, cho rằng thực tiễn thời gian qua cho thấy công tác quản lý còn nhiều bất cập. Nếu tiền kiểm lỏng lẻo nhưng hậu kiểm không theo kịp, sản phẩm không an toàn có thể lọt ra thị trường. Ngược lại, siết thủ tục khi hướng dẫn, hạ tầng số và năng lực thực thi chưa sẵn sàng sẽ gây ách tắc cho doanh nghiệp. Việc Nghị định 46/2026/NĐ-CP phải tạm ngưng hiệu lực, tiếp tục áp dụng Nghị định 15/2018/NĐ-CP là một thực tế cần được nhìn nhận khi hoàn thiện chính sách.
Theo đại biểu, những lỗ hổng nổi bật hiện nay gồm cơ chế tự công bố có thể bị lợi dụng, hậu kiểm chưa đủ sức phát hiện sớm, trách nhiệm giữa các bộ, ngành còn phân tán, quảng cáo sai lệch trên nền tảng số khó kiểm soát, nguy cơ mất an toàn tại bếp ăn tập thể và năng lực kiểm nghiệm, dữ liệu, nhân lực ở cơ sở chưa đồng đều.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 3 chiều 24/10. Ảnh: Lê Bảo
Đề xuất giải pháp, đại biểu Phạm Thu Xanh kiến nghị sửa đổi Điều 57 theo hướng quy định rõ kế hoạch lấy mẫu định kỳ theo nhóm nguy cơ; hậu kiểm đột xuất khi có cảnh báo hoặc dấu hiệu vi phạm; quy định thời hạn xử lý và công khai kết quả sau khi có kết luận. Cơ sở tuân thủ tốt có thể được giảm tần suất kiểm tra, trong khi sản phẩm nguy cơ cao, tái phạm hoặc có cảnh báo phải được kiểm tra tăng cường. Việc giảm tần suất không đồng nghĩa miễn hậu kiểm.
Đại biểu cũng đề nghị quy định chế tài tại Điều 58 tương xứng với mức độ nguy hại, lợi bất chính, hành vi tái phạm và hậu quả; bảo đảm thu hồi sản phẩm, cảnh báo người tiêu dùng và công khai vi phạm khi đủ căn cứ pháp luật.
Dẫn vụ việc 573 nhãn sữa bột giả do Công ty Rance Pharma và Hacofood Group sản xuất, tiêu thụ trong khoảng 4 năm, với doanh thu gần 500 tỷ đồng theo thông tin từ cơ quan điều tra Bộ Công an tháng 4/2025, đại biểu cho rằng đây là cảnh báo về những hạn chế trong phát hiện, truy xuất và xử lý vi phạm. Đáng chú ý, các sản phẩm hướng tới những nhóm dễ tổn thương như người mắc bệnh tiểu đường, suy thận, trẻ sinh non và phụ nữ mang thai.
Về công bố sản phẩm, đại biểu đề nghị rà soát Điều 46 và Phụ lục 1 để thống nhất tiêu chí phân loại theo mức độ nguy hại, đối tượng sử dụng, khả năng truy xuất và lịch sử vi phạm. Thực phẩm dinh dưỡng y học, sản phẩm dành cho trẻ nhỏ và nhóm có khuyến cáo sức khỏe cần được quản lý chặt chẽ; nhóm nguy cơ thấp nên được đơn giản hóa thủ tục thông qua cơ chế điện tử, một cửa và thời hạn giải quyết rõ ràng.

ĐBQH Phạm Thu Xanh - Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng. Ảnh: Lê Bảo
Đối với thực phẩm dinh dưỡng y học sử dụng trong bệnh viện, cần quy định rõ cơ chế sử dụng sản phẩm đã được công bố trong điều trị nội trú theo chỉ định và giám sát y tế, tránh thủ tục trùng lặp.
Đại biểu đồng thời kiến nghị liên thông cơ sở dữ liệu, thống nhất mã định danh sản phẩm, cơ sở và lô hàng; quy định rõ trách nhiệm, thời hạn cập nhật dữ liệu. Với nhóm nguy cơ cao, cần từng bước bắt buộc truy xuất nguồn gốc điện tử từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu đến đơn vị phân phối và điểm bán.
Từ vụ việc quảng cáo kẹo rau củ Kera năm 2025, đại biểu đề nghị sửa đổi đồng bộ Điều 13 và Điều 61, làm rõ trách nhiệm của người quảng cáo, người có ảnh hưởng và nền tảng thương mại điện tử; yêu cầu lưu vết người bán, nội dung quảng cáo, kịp thời tạm ẩn hoặc gỡ bỏ nội dung vi phạm khi có căn cứ và bảo toàn dữ liệu phục vụ xử lý.
Một đầu mối thống nhất không có nghĩa Bộ Y tế làm thay tất cả
Về phân công quản lý nhà nước, đại biểu ủng hộ quy định tại Điều 63 xác định Bộ Y tế là đầu mối thống nhất quản lý nhà nước về ATTP, nhưng nhấn mạnh vai trò này phải đi kèm quyền điều phối thực chất.
Theo đó, Bộ Y tế cần chủ trì xây dựng kế hoạch quốc gia theo nguy cơ; yêu cầu các bộ, ngành chia sẻ dữ liệu đúng hạn; điều phối cảnh báo, truy xuất, thu hồi và xử lý sự cố liên ngành. Luật cần xác định rõ cơ quan chủ trì đối với từng nhóm sản phẩm, loại hình cơ sở và tình huống sự cố, gắn trách nhiệm với người đứng đầu. Điều 71 cũng cần phân định rõ trách nhiệm cấp tỉnh, cấp xã, đồng thời bảo đảm nhân lực, kinh phí và năng lực thực thi.
Đại biểu lưu ý, một đầu mối thống nhất không có nghĩa Bộ Y tế làm thay tất cả, cũng không đồng nghĩa mọi vụ ngộ độc thực phẩm đều mặc nhiên thuộc trách nhiệm của ngành y tế. Các bộ, ngành và địa phương phải chịu trách nhiệm đầy đủ trong lĩnh vực, địa bàn được giao; không né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Để tăng hiệu quả phòng ngừa, đại biểu đề nghị nâng cao năng lực kiểm nghiệm theo vùng, ưu tiên địa bàn xa trung tâm và tuyến cơ sở; bố trí kinh phí lấy mẫu, thử nghiệm theo mức độ nguy cơ; kiểm soát tính độc lập và xung đột lợi ích của các tổ chức thử nghiệm. Việc khuyến khích áp dụng GHP, HACCP, ISO 22000 có thể gắn với giảm tần suất kiểm tra thường quy, nhưng không miễn kiểm tra khi có cảnh báo.
Đồng thời, lộ trình thực hiện luật cần gắn với điều kiện cụ thể về văn bản hướng dẫn, cổng điện tử, chuẩn dữ liệu, quy trình một cửa, ngân sách và tập huấn; bảo đảm có thời gian chuyển tiếp hợp lý.
Đại biểu nhấn mạnh, sửa đổi Luật cần nhất quán nguyên tắc quản lý theo nguy cơ, hậu kiểm dựa trên dữ liệu, truy xuất được nguồn gốc, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm, kiểm soát thực chất quảng cáo. Cải cách thủ tục phải đi đôi với bảo vệ sức khỏe nhân dân, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chân chính, đồng thời phát hiện sớm, ngăn chặn nhanh và xử lý nghiêm thực phẩm không an toàn.