Tôi là đạo diễn phim tài liệu. Khi Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm thành lập, tôi được mời thực hiện bộ phim về hành trình nửa thế kỷ kiến tạo "lá chắn" sức khỏe cộng đồng. Tôi theo chân đoàn công tác đến Bù Gia Mập, Dầu Tiếng, Cà Mau rồi ra đảo Hòn Tre (An Giang). Tôi không đi để tìm những cảnh quay thật đẹp. Tôi muốn biết, phía sau một "lá chắn" sức khỏe đã được tạo nên như thế nào.
Đi tìm những thứ rất nhỏ để giữ sự bình yên
Có những người làm nghề Y nhưng rất ít khi được nhìn thấy họ bên giường bệnh. Khi mọi người còn ngủ, họ có thể đang ngồi bên một căn nhà xa lạ, vén ống quần chờ muỗi đậu vào chân. Ban ngày, họ đi vào bản làng, lấy máu, lấy mẫu nước, mẫu phân; ra đảo tìm ve, bọ chét, bắt chuột, tìm mạt trên lông gà. Những việc nhỏ đến mức nếu không tận mắt chứng kiến, khó hình dung đó lại là một phần của công việc giữ gìn sức khỏe cộng đồng. Hơn nửa thế kỷ qua, những người làm y tế dự phòng tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM vẫn đi trước dịch bệnh như thế.
Đêm xuống ở Cà Mau, các cán bộ Khoa Côn trùng ngồi bên ngoài hàng rào một căn nhà dân. Hình ảnh đó thật lạ, không có ca cấp cứu, không có tiếng còi xe, không có một bệnh nhân nào đang chờ họ, chỉ có đôi chân được vén ống quần lên và một sự chờ đợi rất đặc biệt: Chờ muỗi.
Tôi đã nhìn thấy cảnh ấy trong chuyến đi thực địa cùng đoàn cán bộ của Viện. Con muỗi bay đến, đậu trên da người. Một chiếc ống tuýp lập tức được đưa tới, con muỗi được bắt lại, giữ nguyên trạng để mang về định loại, xác định xem đó là loài gì, có phải vật chủ trung gian có nguy cơ mang mầm bệnh hay không. Nhìn từ bên ngoài, công việc ấy có vẻ đơn giản đến khó tin, nhưng những người làm nghề biết rõ một con muỗi nhỏ bé có thể mang theo một câu chuyện lớn đến mức nào.
ThS Mai Đình Thắng, Trưởng Khoa Côn trùng, giải thích có những phương pháp bắt muỗi được thiết kế để giảm tiếp xúc trực tiếp, như mồi màn kép. Người ngồi bên trong hai lớp màn, để mùi mồ hôi và CO2 thu hút muỗi đến, rồi bắt chúng trên màn. Nhưng với một số khảo sát, cán bộ vẫn phải sử dụng phương pháp mồi người trực tiếp. Khi ấy, họ ngồi chờ để muỗi tìm đến chính cơ thể mình. Nhiều ca làm việc như thế kéo dài hàng giờ giữa rừng, giữa đồng hoặc ở những hòn đảo xa. Công việc thường bắt đầu khi trời tối, cũng là lúc những loài côn trùng cần nghiên cứu bắt đầu hoạt động.
Tôi nghĩ về đôi chân của những cán bộ ấy rất lâu sau khi rời Cà Mau. Bởi trong rất nhiều câu chuyện về ngành y, người ta thường nhìn thấy bác sĩ qua một phòng bệnh, một ca mổ đặc biệt, một cuộc cấp cứu. Còn ở đây, người làm nghề phải đến một nơi khác để tìm bệnh trước khi bệnh tìm đến con người.

Cán bộ Khoa Côn trùng đi bắt muỗi giữa đồng sâu.
Một giọt máu ở bản làng xa
Ở xã Bù Gia Mập, thành phố Đồng Nai (Bình Phước trước đây), câu chuyện lại bắt đầu bằng những giọt máu. Tôi theo chân đoàn cán bộ của Viện vào những bản làng xa, gặp người dân, lấy mẫu máu xét nghiệm. Có người hỏi về màn ngủ, có người hỏi nhà có nhiều muỗi không, có đợt nào tẩm thuốc cho màn hay chưa? Những câu hỏi tưởng chừng vụn vặt ấy lại là những mảnh thông tin cần thiết để dựng nên một bức tranh dịch tễ từ cơ sở.
TS Nguyễn Văn Khởi, Trưởng Khoa Dịch tễ, không nói những điều quá lớn lao. Ông đi từng nhà, hỏi từng người: muỗi ở đâu? Người dân ngủ màn thế nào? Màn có được tẩm thuốc? Những thông tin ấy được nối với kết quả xét nghiệm, với điều kiện môi trường và những dữ liệu khác để biết nguy cơ đang nằm ở đâu. Tôi nhận ra một điều: công việc của họ không bắt đầu từ bệnh viện. Nó bắt đầu từ những nơi có thể xuất hiện bệnh, từ một bản làng xa trung tâm, một khu rừng cao su, một căn nhà ven sông, hay từ những chuồng trâu, một ao nước có những con bọ gậy nhỏ li ti, một chiếc bẫy đèn đặt ở góc nhà khi trời đã tối.
Y tế dự phòng là như vậy, không đợi người bệnh đến rồi mới tìm nguyên nhân. Không chờ dịch bệnh xuất hiện mới bắt đầu hành động. "Y tế dự phòng là lĩnh vực luôn luôn phải đi trước một bước để phát hiện sớm nguy cơ, dự báo xu hướng dịch bệnh và chủ động triển khai các giải pháp phòng chống", TS Đoàn Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM từng chia sẻ với tôi như vậy về công việc của Viện.

Đoàn công tác Khoa dịch tễ vào nhà dân tại xã Bù Gia Mập (BÌnh Phước trước đây) để điều tra muỗi.
Ở Dầu Tiếng (Đồng Nai), đoàn cán bộ Khoa Ký sinh trùng vào khu vực rừng cao su, lấy mẫu phân trâu để tìm những tác nhân có khả năng truyền từ động vật sang người. Họ không ngại đi bộ hàng giờ, vào những vùng sâu, vùng xa chỉ để lấy một mẫu nước, một mẫu phân, một giọt máu rồi đưa về phòng xét nghiệm. Có lúc người dân đứng nhìn những chuyên gia, bác sĩ đầu ngành cặm cụi làm việc giữa đồng rồi nói với con: "Ráng học để mai mốt có công ăn việc làm chứ không sẽ thành mấy ông đang đi bắt ve, nhặt phân bò!".
Cả nhóm bật cười. Câu nói hóm hỉnh ấy làm không khí giữa buổi thực địa nhẹ đi nhưng tôi lại nhớ nó khá lâu. Bởi quả thật, nhìn từ bên ngoài, những người đã dành nhiều năm học tập, nghiên cứu, khoác áo blouse, hôm ấy chẳng khác gì những người đi nhặt những thứ người khác thường tránh xa nhưng dưới kính hiển vi, câu chuyện lại khác. Những thứ mắt thường không nhìn thấy bắt đầu hiện ra.
ThS Đỗ Thị Phượng Linh, Trưởng Khoa Ký sinh trùng, nói một câu nghe giản dị mà tôi nhớ mãi: "Công việc của chúng tôi là đi trước hiểm họa, xông vào hiểm họa nhằm làm cổng gác cho bảo vệ sức khỏe cộng đồng". Cổng gác ấy ở rất nhiều nơi, có khi là một phòng xét nghiệm, có khi là một cánh rừng, có khi là một căn nhà dân ở tận bìa rừng, một bản xa gần biên giới, và cũng có khi là một đêm ngồi im chờ muỗi đậu vào chân.

Đoàn cán bộ khoa Khoa Ký sinh vào rừng lấy mẫu phân trâu bò về xét nghiệm.
Những thứ rất nhỏ có thể cảnh báo những hiểm họa lớn
Ngày 11/7/2026, tôi tiếp tục theo chân đoàn công tác rời đất liền ra đảo Hòn Tre (An Giang). Mỗi chuyến đi là một mảnh ghép thú vị và đầy bất ngờ về những người khoác áo blouse đặc biệt này. Từ con muỗi, họ tìm đến những vật chủ trung gian khác: ve chó, bọ chét, chuột, mạt trên cơ thể chuột, rận và mạt trên gia cầm. Mỗi thứ đều được ghi chép, hỏi han điều tra kỹ lưỡng và thu thập, đưa về nghiên cứu.
Một con chuột dính bẫy được gây mê. Cán bộ chải lông để tìm mạt. Một người dân ôm con gà ra sân để cán bộ kiểm tra. Những hình ảnh ấy, tôi đã đứng riêng quan sát thật kỹ, gần như không có gì "kịch tính" và nhận ra: nghề của họ vốn không được đo bằng sự kịch tính. Một con ve có thể là thông tin, một con muỗi có thể là thông tin, một con mạt có thể là thông tin hay một mẫu phân cũng có thể là thông tin... Từ những thứ nhỏ bé ấy, người làm y tế dự phòng đã nhận ra điều mà cộng đồng chưa kịp nhìn thấy. Đó là lý do mỗi chuyến đi thực địa không đơn thuần là một chuyến công tác mà nó là một lần kiểm tra sức khỏe của cả một vùng đất.
Không phải địa phương nào cũng giống nhau, điều kiện môi trường khác nhau, tập quán sinh hoạt khác nhau, vật chủ trung gian khác nhau, nguy cơ dịch tễ cũng khác nhau. Vì vậy, mọi hoạt động giám sát đều phải bắt đầu từ thực tế địa phương và sự phối hợp với y tế cơ sở. Người làm nghề phải đi, phải nhìn, phải quan sát, phải lấy mẫu, phải phân tích bằng khoa học thực nghiệm, rồi lại đi. Một vòng công việc tưởng như không có điểm kết thúc.
Có một nghịch lý trong nghề y tế dự phòng mà chỉ khi đi cùng họ, tôi mới cảm nhận rõ hơn: Bác sĩ điều trị cứu một bệnh nhân, kết quả ấy nhìn thấy được còn người làm dự phòng có thể dành nhiều ngày, nhiều tháng đi tìm một nguy cơ để rồi kết quả cuối cùng là… không có dịch. Dịch bệnh không xảy ra, bệnh không lan rộng, cộng đồng vẫn sinh hoạt bình thường. Đó chính là thành quả nhưng rất khó nhìn thấy, và đó cũng chính là sự hi sinh thầm lặng không thể nhìn thấy.
Tôi dự một cuộc họp của Viện, TS Giang Hán Minh, Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM, nói về nguyên tắc của đơn vị: "Không để xảy ra dịch rồi mới chống dịch. Chúng ta phải chủ động công tác phòng ngừa". Tôi nghĩ, chính chữ "trước" ấy làm nên sự khác biệt của đội ngũ này. Họ phải đến trước khi bệnh nhân đến, có mặt trước khi dịch xuất hiện, đến trước khi nguy cơ trở thành một con số lớn trên báo cáo.

TS Giang Hán Minh, Viện trưởng Viện Sốt rét – ký sinh trùng – côn trùng cùng bác sĩ Lương Trường Sơn đến nhà dân điều tra thực tế về sốt rét.
Từ những người đi rừng năm ấy
Có một điểm khiến hành trình 50 năm của Viện không thể chỉ kể bằng những con số hiện tại. Trước khi mang tên Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM, những người làm công tác sốt rét ở miền Nam đã đi qua những cánh rừng kháng chiến. Từ Phòng Sốt rét miền Nam C30, một thế hệ thầy thuốc đã làm công tác phòng chống sốt rét trong điều kiện chiến tranh. Sốt rét ác tính từng là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng đối với bộ đội, cán bộ và người dân vùng kháng chiến. Bệnh diễn biến rất nhanh; nếu không kịp cấp cứu, người bệnh có thể tử vong.
BS Lê Thị Thu, nguyên Tổ trưởng Tổ Ký sinh trùng của Viện, kể rằng một tổ công tác khi ấy thường chỉ có ba người: một người lo dịch tễ và chiến lược thuốc men, một người xét nghiệm ký sinh trùng sốt rét, một người đi bắt muỗi để xác định loài và lập bản đồ. Ban đêm, khi muỗi hoạt động, họ không ngồi trong phòng. Nơi làm việc của họ là bờ suối, mương nước, lùm cây. Cũng là những cán bộ ngồi vén quần đợi muỗi, rồi dùng ống thủy tinh bắt lấy từng con. Một đêm có thể bắt được nhiều ống, mỗi ống vài con muỗi. Sau đó chúng được đưa về nghiên cứu.
PGS.TS Trần Thị Trung Chiến, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, nhớ lại những đồng nghiệp đã làm công việc ấy trong chiến tranh. Thiếu thuốc men, thiếu điều kiện, có những người ban đêm phải ra suối cởi áo cho muỗi đốt, sau đó mang mẫu về labo để xác định tác nhân, tìm cơ sở xây dựng phác đồ điều trị. Nửa thế kỷ trôi qua, chiếc ống thủy tinh đã có thêm những thiết bị hiện đại, phòng xét nghiệm có thêm máy móc, dữ liệu được phân tích bằng những phương pháp mới. Nhưng có một thứ gần như không thay đổi: muốn biết nguy cơ đang ở đâu, người làm nghề vẫn phải đi đến tận nơi nguy cơ tồn tại.
PGS.TS Trần Thị Trung Chiến nói với tôi rằng, nếu so về thu nhập và đời sống với những chuyên ngành như nội, ngoại, sản, nhi hay so với bệnh viện, trường học, cán bộ của Viện có nhiều thiệt thòi. Nhưng họ vẫn đoàn kết, cố gắng, đi các tỉnh phía Nam, phối hợp với CDC địa phương để phát hiện và ngăn ngừa dịch bệnh. Câu nói ấy khiến tôi nghĩ về những người tôi đã gặp trong những chuyến đi. Họ không kể về mình như những người đang làm một công việc phi thường.
Không có nhiều tiếng vỗ tay cho một con muỗi được bắt đúng lúc. Không có lễ tuyên dương cho một nguy cơ được phát hiện trước khi thành dịch. Và cũng chẳng mấy ai biết một chuyến đi thực địa đã góp phần ngăn chặn điều gì. Có lẽ đó chính là sự hy sinh đặc biệt của y tế dự phòng: họ chấp nhận làm rất nhiều việc để một ngày nào đó, cộng đồng không phải biết đến lý do vì sao mình được bình yên.

TS Đoàn Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện Sốt rét – ký sinh trùng – côn trùng trực tiếp chải lông chuột tìm ký sinh trùng.
Đi trước hiểm họa
Sau năm 1975, sốt rét vẫn từng là một gánh nặng lớn. Có thời điểm số ca mắc lên tới hàng trăm nghìn mỗi năm, số người tử vong lên tới hàng trăm. Ở Tây Ninh, BS Nguyễn Văn Cường nhớ lại thời điểm sốt rét có thể lên đến hàng nghìn ca, hàng trăm ca nặng và hàng chục người tử vong. Những con số ấy hôm nay đã trở thành ký ức.
Đến năm 2025, Việt Nam đã tiến rất gần mục tiêu loại trừ sốt rét.
Từ năm 1991 đến nay, sốt rét đã được đẩy lùi mạnh mẽ trên cả nước. Khu vực Viện phụ trách từng là những địa bàn có nguy cơ cao, nhưng qua nhiều năm giám sát, nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ tuyến dưới, tình hình đã thay đổi. Tại Tây Ninh, từ những con số mắc bệnh, sốt rét ác tính và tử vong từng ở mức cao, nay đã được kiểm soát. BS Nguyễn Văn Cường, nguyên Phó Giám đốc Sở Y tế Tây Ninh, ghi nhận vai trò của sự hướng dẫn, đào tạo và hỗ trợ từ Viện trong quá trình ấy. Nhưng chiến thắng của một bệnh không có nghĩa người làm dự phòng được phép dừng lại.
Bản đồ dịch tễ đang thay đổi, biến đổi khí hậu, đô thị hóa, giao lưu và di chuyển của con người kéo theo những nguy cơ mới. Những mầm bệnh cũ chưa biến mất hoàn toàn, trong khi những bệnh mới nổi có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu. Bởi vậy, họ vẫn phải đi, đi trước một bước. Có khi chỉ một bước thôi, nhưng nếu chậm lại, khoảng cách giữa "nguy cơ" và "dịch bệnh" có thể trở nên rất ngắn.
Hơn hai tháng ròng theo chân họ lên rừng xuống biển, từ vùng biên ải đến hải đảo xa xôi, tôi nhận ra những người mặc áo blouse trắng "lạ lùng" kia đi tìm những thứ mà tất cả chúng ta đều mong không bao giờ phải nhìn thấy. Tôi cũng từng nghĩ nghề Y là cứu người khi họ mắc bệnh. Nhưng sau những chuyến đi này, tôi hiểu thêm một phần khác của nghề: có những người làm tất cả những gì có thể để chúng ta không mắc bệnh. Họ đi vào nơi có nguy cơ, để phần còn lại của cộng đồng được sống trong những ngày bình thường. Có lẽ, đó là một trong những sự hy sinh thầm lặng nhất của ngành Y: làm rất nhiều điều để một ngày nào đó, không ai phải biết họ đã làm gì để giữ lại sự bình yên.

TS Nguyễn Văn Khởi, Trưởng Khoa dịch tễ và cán bộ của Khoa vào các bản xa điều tra, lấy mẫu máu xét nghiệm.
