Ngày 9/10, tại TPHCM, Báo Thanh Niên tổ chức hội thảo "Thành tựu y học Việt - Ứng dụng khoa học công nghệ vào điều trị các ca bệnh khó", với sự tham dự của đại diện các bệnh viện công lập, tư nhân và cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe ở khu vực phía Nam.
Hội thảo là dịp nhìn lại những bước tiến của y học Việt Nam, đồng thời trao đổi về cách đưa các thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn điều trị, giúp người bệnh có thêm cơ hội tiếp cận những phương pháp chẩn đoán, điều trị tiên tiến.
Không phân biệt công - tư, lấy người bệnh làm trung tâm
Phát biểu định hướng tại hội thảo, TS.BS Hà Anh Đức - Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), đánh giá cao những thành tựu y học Việt Nam đã đạt được, trong đó có các kỹ thuật phức tạp như can thiệp bào thai và ghép tạng. Theo ông, nhiều kỹ thuật chuyên sâu của Việt Nam đã đạt trình độ tiệm cận quốc tế, thể hiện năng lực chuyên môn và khả năng làm chủ công nghệ của đội ngũ thầy thuốc trong nước.

TS.BS Hà Anh Đức - Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Mimosa
Từ thực tiễn đó, lãnh đạo Cục Quản lý khám, chữa bệnh nhấn mạnh ngành y tế không đặt ra ranh giới giữa cơ sở khám, chữa bệnh công lập và tư nhân khi xem xét, ghi nhận thành tựu chuyên môn. Điều quan trọng là chất lượng và hiệu quả điều trị, cũng như những lợi ích thực tế mà người bệnh nhận được.
Ông dẫn chứng việc các bệnh viện tư nhân tham gia hỗ trợ chuyên môn trong mô hình bệnh viện vệ tinh với vai trò bệnh viện hạt nhân, cho thấy sự hợp tác không chỉ diễn ra giữa các cơ sở cùng khu vực sở hữu mà còn có thể mở rộng giữa công lập và tư nhân. Việc chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ chuyên môn và nhân rộng kỹ thuật hiệu quả sẽ tạo thêm điều kiện để người bệnh được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng.
Tuy nhiên, TS.BS Hà Anh Đức lưu ý ứng dụng khoa học công nghệ không đồng nghĩa với việc chạy theo máy móc hiện đại. Các cơ sở y tế cần lựa chọn giải pháp phù hợp, cân nhắc khả năng triển khai và lợi ích mang lại. Nguyên tắc xuyên suốt vẫn là lấy người bệnh làm trung tâm; công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi được đội ngũ nhân viên y tế làm chủ và chuyển hóa thành hiệu quả chăm sóc, điều trị.
Bên cạnh đầu tư thiết bị, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo Cục mong muốn các cơ sở đào tạo, bệnh viện và cơ quan quản lý tăng cường phối hợp, tạo điều kiện để nhân viên y tế nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu triển khai những kỹ thuật ngày càng phức tạp.
TS.BS Hà Anh Đức đồng thời đề cao vai trò của truyền thông trong lan tỏa các thành tựu y học, ghi nhận nỗ lực và sự cống hiến của đội ngũ thầy thuốc. Theo ông, thông tin khách quan, đầy đủ sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn những kết quả mà ngành y tế đạt được, qua đó tăng cường sự đồng cảm và chia sẻ với những áp lực trong công tác khám, chữa bệnh.
Từ robot, AI đến phối hợp chuyên môn Việt - Nhật
Các tham luận tại hội thảo cho thấy ứng dụng khoa học công nghệ trong y học đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực, từ phẫu thuật chuyên sâu, chẩn đoán hình ảnh đến phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe liên tục.
Ở khối bệnh viện công lập, TS.BS.CKII Nguyễn Phú Hữu - Trưởng khoa Phẫu thuật đại trực tràng Bệnh viện Bình Dân, trình bày kết quả 10 năm đầu tiên triển khai phẫu thuật robot tại Việt Nam. Tham luận góp thêm góc nhìn về quá trình tiếp nhận, phát triển và ứng dụng kỹ thuật mới trong điều trị tại một bệnh viện chuyên sâu.

TS.BS.CKII Nguyễn Phú Hữu - Trưởng khoa Phẫu thuật đại trực tràng Bệnh viện Bình Dân, trình bày những thành tựu phẫu thuật robot. Ảnh: Mimosa
Trong khi đó, ThS.BS.CKII Nguyễn Thanh Truyền - Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long, đề cập việc ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển kỹ thuật chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng điều trị. GS.TS.BS.CKII Đào Văn Dũng - cố vấn cao cấp Hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long, phân tích thành tựu, thách thức và giải pháp ứng dụng AI, robot trong điều trị các ca bệnh khó tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Các tham luận khác đề cập ứng dụng công nghệ hình ảnh và phẫu thuật ít xâm lấn trong điều trị ung thư đại tràng; công nghệ 3D trong phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, hàm mặt; cũng như vai trò của công nghệ trong phục hồi chức năng và nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán, điều trị.
Đáng chú ý, ở góc độ y tế tư nhân và hợp tác quốc tế, BS. Bùi Lê Nhật Tiên - Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Hệ thống y khoa chuyên sâu quốc tế Bernard (Bernard Healthcare), trình bày tham luận về ứng dụng hệ thống thông tin bệnh viện HIS và hệ thống lưu trữ, truyền tải hình ảnh y khoa PACS trong quy trình kiểm tra chéo, chăm sóc liên tục Việt - Nhật.
Tham luận tập trung vào việc phối hợp thông tin và kiểm tra chéo nhằm nâng cao năng lực chẩn đoán chính xác, hạn chế bỏ sót tổn thương. Đây là một hướng ứng dụng công nghệ không chỉ gắn với thiết bị chẩn đoán mà còn chú trọng quy trình chuyên môn, trao đổi thông tin và tính liên tục trong chăm sóc người bệnh.
Từ những kinh nghiệm và mô hình được chia sẻ tại hội thảo, vấn đề đặt ra không chỉ là phát triển thêm các kỹ thuật cao, mà còn làm sao để công nghệ được ứng dụng phù hợp, nhân lực đủ năng lực làm chủ và thành tựu chuyên môn có thể lan tỏa rộng hơn.
Thông điệp của lãnh đạo Cục Quản lý khám, chữa bệnh cũng hướng đến yêu cầu đó: Tăng cường kết nối giữa cơ sở khám, chữa bệnh, đơn vị đào tạo và cơ quan quản lý; thúc đẩy chia sẻ thành tựu giữa y tế công lập và tư nhân; lấy hiệu quả điều trị và lợi ích của người bệnh làm thước đo cho quá trình phát triển y học Việt Nam.
Phát biểu khai mạc, nhà báo Nguyễn Ngọc Toàn - Tổng Biên tập Báo Thanh Niên, nhấn mạnh hành trình phát triển của y học Việt Nam được đánh dấu bằng nhiều thành tựu đáng chú ý, từ những ca phẫu thuật phức tạp, ghép tạng đến ứng dụng phẫu thuật robot, trí tuệ nhân tạo (AI) và các thiết bị y tế hiện đại.
Theo ông, sự phát triển của khoa học công nghệ đang mở rộng khả năng chẩn đoán, điều trị, tạo thêm cơ hội cho người mắc những bệnh lý phức tạp. Tuy nhiên, đích đến cuối cùng không nằm ở những thiết bị hiện đại hay kỹ thuật mới, mà ở số người bệnh được phát hiện bệnh sớm, điều trị hiệu quả, được cứu sống và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Toàn cũng ghi nhận vai trò ngày càng rõ nét của y tế tư nhân trong đầu tư công nghệ, trang thiết bị và nhân lực chất lượng cao, góp phần mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ chuyên sâu. Sự phát triển song hành giữa hai khu vực công - tư có thể đem đến nhiều lựa chọn hơn cho người dân, đồng thời góp phần giữ người bệnh điều trị trong nước.