Liên quan vụ người phụ nữ xuất hiện trong video trên mạng xã hội, tố chủ nhà "quỵt" tiền sau khi phá dỡ công trình tại ngõ 55 Nguyễn An Ninh, phường Tương Mai, Hà Nội, Công an phường Tương Mai đã tiếp nhận trình báo của anh N.H.B. để xác minh.
Theo thông tin anh B. trình bày, gia đình anh trước đó thuê chị N.T.L. phá dỡ công trình. Trong quá trình thực hiện, hai bên phát sinh mâu thuẫn và chấm dứt việc thuê phá dỡ. Anh B. cho biết đã chuyển cho chị L. 20 triệu đồng. Trong khi đó, trước đó video lan truyền trên mạng xã hội thể hiện người phụ nữ cho rằng mình đã được thuê phá dỡ công trình nhưng chưa được thanh toán tiền công.
Hiện Công an phường Tương Mai chưa làm việc được với chị L. để xác minh đầy đủ các tình tiết liên quan.

Người đàn ông được cho là chủ nhà và công trình đã được phá dỡ xong trong 15 ngày. Ảnh chụp màn hình
Không có hợp đồng giấy không đồng nghĩa không có thỏa thuận
Trao đổi với phóng viên Báo Sức khoẻ và Đời sống, luật sư Nguyễn Văn Nam – Đoàn luật sư TP Hà Nội cho biết, theo Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ trả tiền.
Điểm đáng chú ý là pháp luật dân sự không mặc nhiên yêu cầu mọi hợp đồng dịch vụ đều phải có văn bản có chữ ký của các bên.
Điều 119 Bộ luật Dân sự quy định giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Đặc biệt, giao dịch thông qua phương tiện điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.
Do đó, nếu một bên cho rằng hai bên đã thỏa thuận việc phá dỡ thông qua tin nhắn, cuộc gọi, chuyển tiền, giao nhận mặt bằng hoặc các hành vi thực tế khác thì những tài liệu, dữ liệu này có thể trở thành nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Trong vụ việc này, việc người phụ nữ nói còn lưu giữ tin nhắn trao đổi giữa hai bên vì thế là một tình tiết cần được xác minh, thay vì chỉ căn cứ vào việc có hay không một bản hợp đồng giấy.
Theo thông tin mới được Công an phường Tương Mai tiếp nhận, anh B. thừa nhận đã chuyển cho chị L. 20 triệu đồng sau khi hai bên phát sinh mâu thuẫn và chấm dứt việc phá dỡ. Tuy nhiên, chỉ riêng việc chuyển tiền chưa đủ để kết luận số tiền này là tiền công, tiền tạm ứng, khoản thanh toán một phần hay khoản tiền nhằm giải quyết tranh chấp giữa hai bên.
Để xác định bản chất khoản tiền, cần làm rõ nội dung chuyển khoản, thời điểm chuyển tiền, người nhận, nội dung giao dịch và những trao đổi giữa hai bên trước, trong và sau thời điểm chuyển tiền.
Nếu xác định có hợp đồng dịch vụ, Điều 519 Bộ luật Dân sự quy định bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền theo thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận về giá hoặc phương pháp xác định giá thì có thể căn cứ giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm, địa điểm giao kết hợp đồng.
Đáng chú ý, nếu hợp đồng bị chấm dứt giữa chừng, pháp luật cũng có quy định về việc thanh toán phần công việc đã được thực hiện. Điều 520 Bộ luật Dân sự quy định, trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ đơn phương chấm dứt vì việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng đã thực hiện và bồi thường thiệt hại nếu có.
Như vậy, nếu cơ quan chức năng xác định thực tế có thỏa thuận thuê phá dỡ thì vấn đề cần giải quyết không đơn thuần là "có hợp đồng giấy hay không", mà còn là nội dung thỏa thuận, tổng giá trị công việc, phần việc đã hoàn thành và số tiền hai bên đã thanh toán.
Người đăng video có thể chịu trách nhiệm nếu thông tin sai sự thật
Một vấn đề khác cần được làm rõ là việc video về mâu thuẫn giữa hai bên được đăng tải lên mạng xã hội và nội dung tố chủ nhà "quỵt" tiền.
Việc một cá nhân đưa thông tin về tranh chấp của mình lên mạng xã hội không mặc nhiên là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, nếu thông tin được xác định là sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì người đăng có thể phải chịu trách nhiệm tùy tính chất, mức độ và hậu quả.
Từ ngày 1/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Đối với cá nhân có cùng hành vi, mức phạt bằng một nửa, tức từ 10-15 triệu đồng; đồng thời có thể bị buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm.
Ở mức độ nghiêm trọng hơn, nếu có đủ căn cứ xác định người nào bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hành vi này có thể được xem xét về tội "Vu khống" theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, để xác định có vi phạm hay không, cơ quan chức năng phải làm rõ người đăng là ai, nội dung cụ thể được đăng tải, mức độ đúng sai của thông tin, mục đích đăng tải và hậu quả thực tế. Không thể chỉ dựa vào một đoạn video đang lan truyền trên mạng để kết luận trách nhiệm pháp lý của bất kỳ bên nào.
Theo hướng pháp lý, vụ việc trước hết cần được nhìn nhận là tranh chấp liên quan đến việc giao kết và thực hiện thỏa thuận phá dỡ công trình. Cơ quan chức năng cần xác minh các tin nhắn, cuộc gọi, chứng từ chuyển tiền, thỏa thuận về giá, quá trình phá dỡ cũng như lời khai của những người liên quan.
Đặc biệt, việc anh B. trình báo và cung cấp thông tin đã chuyển 20 triệu đồng là tình tiết cần được đối chiếu với các chứng cứ khác. Tương tự, các tin nhắn mà chị L. cho biết đang lưu giữ cũng cần được kiểm tra để xác định có hay không việc thỏa thuận thuê phá dỡ và nội dung thỏa thuận giữa các bên.
Chỉ khi các chứng cứ được kiểm tra, đối chiếu đầy đủ mới có cơ sở xác định bản chất quan hệ giữa các bên, nghĩa vụ thanh toán còn lại nếu có, cũng như trách nhiệm pháp lý liên quan đến việc đăng tải thông tin trên mạng xã hội.